Tinh chỉnh kỹ thuật
Martin, cùng với Anthony T. James, đã phát triển sắc ký khí (theo Martin và Synge đã đưa ra trong bài báo năm 1941) bắt đầu từ năm 1949. Năm 1952, trong bài thuyết trình về giải Nobel Hoá học Nghiên cứu này dựa trên kết quả thu được từ thành phần hoá học của sắc kí khí. Tuy nhiên, phương pháp của Martin và James đã trở thành nền tảng cho những phát triển tiếp theo trong sắc kí khí gas.

Sự dễ dàng và hiệu quả của sắc ký khí để tách các hóa chất hữu cơ thúc đẩy việc áp dụng nhanh chóng phương pháp, cũng như sự phát triển nhanh chóng của các phương pháp phát hiện mới để phân tích sản lượng. Máy dò dẫn nhiệt, được mô tả năm 1954 bởi NH Ray, là nền tảng cho một số phương pháp khác: máy dò ion hoá ngọn lửa được mô tả bởi J. Harley, W. Nel, và V. Pretorius năm 1958, và James Lovelock giới thiệu Máy dò chụp điện tử năm đó. Những người khác đã giới thiệu quang phổ khối lượng cho sắc ký khí vào cuối những năm 1950.
Công việc của Martin và Synge cũng thiết lập giai đoạn cho phép sắc ký lỏng hiệu năng cao, cho thấy rằng các hạt hấp thụ nhỏ và áp suất có thể tạo ra các kỹ thuật sắc ký lỏng nhanh. Điều này đã được thực hiện rộng rãi vào cuối những năm 1960 (và phương pháp này được sử dụng để tách axit amin vào đầu năm 1960)
Sắc ký lớp mỏng
Sự phát triển đầu tiên của sắc ký lớp mỏng xảy ra vào những năm 1940, và các kỹ thuật tiến triển nhanh chóng vào những năm 1950 sau khi áp dụng các tấm tương đối lớn và vật liệu tương đối ổn định cho các lớp hấp phụ .
Những phát triển sau này
Năm 1987 Pedro Cuatrecasas và Meir Wilchek đã được trao Giải thưởng Y học Wolf cho phát minh và phát triển sắc ký affinity và các ứng dụng của nó đối với khoa học sinh y học.