Bi kịch của các commons
Xem thêm: Bi kịch của cộng đồng
Năm 1968, Garrett Hardin đặt ra cụm từ “Bi kịch của công chúng.” Đó là một lý thuyết kinh tế, nơi những người có lý trí hành động chống lại lợi ích tốt nhất của nhóm bằng cách tiêu thụ một nguồn lực chung. Kể từ đó, bi kịch của cộng đồng đã được sử dụng để biểu tượng sự xuống cấp của môi trường bất cứ khi nào nhiều cá nhân sử dụng một nguồn tài nguyên chung. Mặc dù Garrett Hardin không phải là học giả của STS, nhưng khái niệm bi kịch của các công ước vẫn áp dụng cho khoa học, công nghệ và xã hội .
Trong bối cảnh đương đại, Internet đóng vai trò là tấm gương của bi kịch của cộng đồng thông qua việc khai thác tài nguyên số và thông tin cá nhân. Dữ liệu và mật khẩu internet có thể bị đánh cắp dễ dàng hơn nhiều so với tài liệu vật lý. Virtual gián điệp là gần như miễn phí so với chi phí của gián điệp vật lý. Ngoài ra, trung lập có thể được xem như là một ví dụ của bi kịch của các commons trong một bối cảnh STS. Phong trào trung lập thực tế lập luận rằng Internet không phải là một nguồn lực được chi phối bởi một nhóm cụ thể, cụ thể là những người có nhiều tiền hơn để chi tiêu cho truy cập Internet.
Andrew Kahrl đưa ra một phản ứng ngược với bi kịch của các công ước. Việc tư nhân hóa thường là một cách lành mạnh để đối phó với bi kịch của các cộng đồng. Kahrl gợi ý rằng việc tư nhân hóa các bãi biển trên đảo Long, nhằm chống lại sự lạm dụng quá nhiều các bãi biển ở Long Island, làm cho cư dân ở Long Island dễ bị thiệt hại do lũ lụt từ cơn bão Sandy. Việc tư nhân hoá các bãi biển này đã lấy đi sự bảo vệ của cảnh quan tự nhiên. Các vùng đất triều bảo vệ tự nhiên đã bị ráo riết và phát triển. Nỗ lực chiến đấu chống lại bi kịch của các cộng đồng bằng tư nhân hoá là phản tác dụng. Việc tư nhân hoá thực sự đã phá huỷ công ích bảo vệ tự nhiên khỏi cảnh quan .

Sự hiện đại thay thế
Hiện đại thay thế là một công cụ khái niệm thường được sử dụng để đại diện cho trạng thái của xã hội phương Tây hiện nay. Hiện đại đại diện cho các cấu trúc chính trị và xã hội của xã hội, tổng hợp các bài thuyết trình cá nhân, và cuối cùng là một cái nhìn nhanh về hướng của xã hội tại một thời điểm. Thật không may hiện đại thông thường không có khả năng mô hình hóa các hướng thay thế cho sự phát triển hơn nữa trong xã hội chúng ta. Ngoài ra, khái niệm này không có hiệu quả khi phân tích các xã hội hiện đại tương tự nhưng độc đáo như những gì được tìm thấy trong các nền văn hoá đa dạng của thế giới đang phát triển. Các vấn đề có thể được tóm tắt thành hai yếu tố: thất bại bên trong để phân tích tiềm năng tăng trưởng của một xã hội nhất định, và thất bại bên ngoài để mô hình các nền văn hoá khác nhau và các cấu trúc xã hội và dự đoán tiềm năng tăng trưởng của họ.
Trước đây, hiện đại mang ý nghĩa của hiện trạng hiện đại, và sự tiến hóa của nó thông qua chủ nghĩa thực dân châu Âu. Quá trình trở thành “hiện đại” được cho là xảy ra theo cách tuyến tính, được xác định trước và được Philip Brey xem như một cách để giải thích và đánh giá sự hình thành xã hội và văn hoá. Ý tưởng này gắn liền với lý thuyết hiện đại hóa, ý tưởng rằng các xã hội tiến triển từ những xã hội “hiện đại đến hiện đại”.
Trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, có hai ống kính chính để xem hiện đại. Thứ nhất là làm cách nào để xã hội định lượng những gì nó muốn tiến tới. Có hiệu quả, chúng ta có thể thảo luận về khái niệm “hiện đại thay thế” (như mô tả của Andrew Feenberg) và chúng ta muốn hướng tới phía nào. Ngoài ra, hiện đại có thể được sử dụng để phân tích sự khác biệt trong tương tác giữa các nền văn hoá và cá nhân. Từ quan điểm này, các hiện đại thay thế tồn tại cùng một lúc, dựa trên những kỳ vọng về văn hoá và xã hội khác nhau về cách xã hội (hoặc cá nhân trong xã hội) nên hoạt động như thế nào. Bởi vì các loại tương tác khác nhau giữa các nền văn hoá khác nhau, mỗi nền văn hoá sẽ có một hiện đại khác nhau.