Centralit là chất an định hoá học, nó còn có tác dụng thuần hoá và là phụ gia
lạnh có vai trò của chất dập lửa.
Công thức hoá học của Centralit II:
C6H5(CH3)N-CO-N(CH3)C6H5
Tinh thể Centralit không màu, không tan trong nước, tan tốt trong dung môi hữu cơ như rượu, ete, axeton, glyxerin.
Centralit II được hình thành như một chất an định cho thuốc phóng đặc biệt là thuốc phóng 2 gốc. Centralit II không những là chất an định mà còn là chất dẻo hoá tốt. Ở nhiệt độ cao, nó dẻo hoá nitroxenlulo với hàm lượng thấp Centralit có khả năng phản ứng tốt với các oxit nitơ. Centralit II có phản ứng cộng H-OH, H-CN, H-O-CH3, H -SO sN a.vào liên kết C=O.
Centralit vừa có phản ứng thế, vừa có phản ứng cộng của vòng benzen.
(CHs(C6H5)N)2CO + 2Br2 ^ (CHs(Br-C6H4)N)2CO + 2HBr
Nước thải nhiễm NG thường phát sinh từ các dây chuyền sản xuất thuốc phóng hai gốc dạng lá và dạng ống. Đây là loại chất thải nguy hại vì NG được xếp loại có độc tính cao [ 10].
Trong công nghiệp quốc phòng, công nghiệp sản xuất, gia công và thu hồi thuốc phóng, thuốc nổ có một vị trí rất quan trọng, nó tạo nên những thành phần không thể thiếu trong ngành vũ khí, trang bị của quân đội. Trong quá trình sản xuất, gia công chế biến, ngành công nghiệp này tạo ra một lượng lớn chất thải nguy hại.
Các chất thải này bao gồm các hợp chất nitro thơm như: 2,4,6-Trinitrotoluen, 2,4- Dinitrotoluen, 2,6-Dinitrotoluen, các hợp chất amin thơm …
Hiện trạng công nghệ xử lý nước thải sản xuất thuốc phóng 2 gốc
Đối với nước thải bị ô nhiễm NG, một số giải pháp công nghệ đã được sử dụng để xử lý như: phương pháp hấp phụ trên than hoạt tính, phương pháp điện phân, phương pháp vi sinh, phương pháp ozon hoá [78].
Phương pháp hấp phụ trên than hoạt tính
Phương pháp hấp phụ được dùng để loại các chất bẩn hoà tan trong nước với hàm lượng rất nhỏ mà phương pháp xử lý sinh học cùng các phương pháp khác không loại bỏ được. Thông thường đây là các hợp chất hoà tan có độc tính cao hoặc các chất có mùi, vị và mầu rất khó chịu.
Các chất hấp phụ thường dùng là: than hoạt tính, đất sét hoạt tính, silicagen, oxit nhôm, một số chất tổng hợp hoặc chất thải trong sản xuất như xỉ tro, xỉ mạt sắt… Trong số này than hoạt tính được dùng phổ biến nhất. Than hoạt tính có hai dạng là: dạng bột và dạng hạt đều được dùng để hấp phụ. Than hoạt tính dạng bột có kích thước từ 15 – 20 ^m, thường được sử dụng ở các hệ thống không có tính liên tục, xử lý theo mẻ, khả năng tái sử dụng thấp. Trong hệ thống xử lý theo mẻ, để có sự tiếp xúc của toàn bộ thể tích chất lỏng cần xử lý với than hoạt tính thì cần phải có sự khuấy trộn vì nó mang lại tác dụng tốt cho việc chuyển khối diễn ra một cách dễ dàng hơn. Than hoạt tính dạng hạt có kích thước từ 0,3 – 3,0 mm, thường được sử dụng trong các hệ thống xử lý liên tục, khả năng tái sử dụng cao. Trong hệ thống liên tục đa số sử dụng than hoạt tính dạng hạt, chúng được cố định trong cột hấp phụ. Sự hấp phụ diễn ra khi cho chất cần được xử lý đi qua cột hấp phụ. Kích thước của than hạt dùng để xử lý chất hữu cơ nằm trong khoảng 0,4 – 1,7 mm, độ cao của tầng than thường lớn hơn 70 cm [2]. Các chất hữu cơ, kim loại nặng và các chất màu dễ bị than hấp phụ. Lượng chất hấp phụ tùy thuộc vào khả năng hấp phụ của từng chất và hàm lượng chất bẩn có trong nước. Đã có các công trình nghiên cứu khả năng tách NG từ nước thải bằng một số loại than hoạt tính, đồng thời đã đề xuất giải pháp tái sinh than sau khi đã sử dụng để hấp phụ NG [1].
Đối với nguồn nước thải ở các cơ sở quốc phòng, phương pháp hấp phụ đã được sử dụng để loại bỏ các hợp chất nitro thơm trong nước thải như TNT [1].
Trong số các phương pháp xử lý nước thải thì phương pháp hấp phụ được triển khai thành công ở quy mô công nghiệp, đã áp dụng ở một số các cơ sở sản xuất quốc phòng. Phương pháp này dựa trên cơ sở sử dụng than hoạt tính để hấp phụ tách các hợp chất nitro thơm khỏi nước thải, còn than hoạt tính đã hấp phụ được đưa đi xử lý riêng bằng phương pháp thiêu đốt. Tuy nhiên, trong thực tế để xử lý hiệu quả loại nước thải này, người ta thường bổ sung và hệ thống xử lý các công đoạn như xử lý cơ học, xử lý hóa học và sinh học. Đây là giải pháp công nghệ tổng hợp, khâu hấp phụ giữ vai trò trọng tâm trong giải pháp xử lý.