Phép đo sắc ký khí khối lượng (GC-MS) là một phương pháp phân tích kết hợp các tính năng của sắc kí khí và quang phổ khối để xác định các chất khác nhau trong một mẫu thử nghiệm. Các ứng dụng của GC-MS bao gồm phát hiện ma túy, điều tra hỏa hoạn, phân tích môi trường, chất nổ cuộc điều tra, và xác định các mẫu chưa biết, bao gồm các mẫu que Chất liệu Thu được từ hành tinh Mars Trong sứ mệnh thăm dò để đầu những năm 1970. GC-MS cũng có thể được sử dụng trong an ninh sân bay để phát hiện các chất trong hành lý hoặc trên con người. Thêm vào đó, nó có thể xác định các nguyên tố vi lượng trong các vật liệu mà trước đây đã từng nghĩ là đã tan rã ngoài việc nhận diện. Giống như sắc ký lỏng – quang phổ khối, nó cho phép phân tích và phát hiện ngay cả với một lượng nhỏ chất.
GC-MS đã được coi là “tiêu chuẩn vàng” cho việc xác định chất liệu pháp y vì nó được sử dụng để thực hiện kiểm tra 100% cụ thể, xác định tích cực sự hiện diện của một chất cụ thể. Một bài kiểm tra không đặc hiệu chỉ đơn thuần chỉ ra rằng bất kỳ một vài trong một loại chất có mặt. Mặc dù một bài kiểm tra không đặc hiệu có thể gợi ý về mặt thống kê nhận dạng của chất, điều này có thể dẫn đến nhận dạng giả

Lịch sử
Việc nối đầu tiên của sắc ký khí vào một quang phổ khối được báo cáo vào năm 1959. Sự phát triển của các máy tính giá cả phải chăng và thu nhỏ đã giúp đơn giản hoá việc sử dụng thiết bị này, cũng như cải tiến lớn về lượng thời gian cần thiết để phân tích mẫu. Vào năm 1964, Electronic Associates, Inc. (EAI), nhà cung cấp hàng đầu về máy tính tương tự của Mỹ, đã bắt đầu phát triển một quang phổ khối phổ quadrupole được kiểm soát bởi máy tính dưới sự chỉ đạo của Robert E. Finnigan. Vào năm 1966, bộ phận EAI của Finnigan và cộng sự của Mike Uthe đã bán được hơn 500 dụng cụ phân tích gas dư lượng bốn phần tư. Năm 1967, Finnigan rời EAI để thành lập Công ty Finnigan Instrument cùng với Roger Sant, T. Z. Chou, Michael Story và William Fies. Vào đầu năm 1968, họ đã cung cấp các dụng cụ thí nghiệm GC / MS nguyên mẫu đầu tiên cho Đại học Stanford và Purdue . Khi Finnigan Instrument Corporation được mua lại bởi Thermo Instrument Systems (sau đó là Thermo Fisher Scientific) vào năm 1990, nó được coi là “nhà sản xuất máy đo phổ phổ khối lượng lớn nhất thế giới” .
Năm 1996 các đơn vị GC-MS tốc độ cao hàng đầu đã hoàn thành phân tích các chất tăng tốc trong vòng chưa đầy 90 giây, trong khi đó GC-MS cần ít nhất 16 phút. Vào những năm 2000, các công cụ GC / MS vi tính sử dụng công nghệ tứ cực đã trở nên cần thiết cho nghiên cứu hóa học và là một trong những công cụ quan trọng nhất được sử dụng cho phân tích hữu cơ. GC / MS ngày nay được sử dụng rộng rãi trong việc theo dõi môi trường nước, không khí và đất; Trong quy định về nông nghiệp và an toàn thực phẩm; Và trong khám phá và sản xuất thuốc.